|
|
P.O. BOX 13237 Portland, OR 97213 Tel: 503 821 9848 Vuthanhan@yahoo.com
|
| QUY LUAT |
|
|
|
Bài 1 Tìm hiểu về đời sống tu trì I-Thế kỷ thứ I
II-Thế kỷ thứ IV Một số người thích lui vào sa mạc, tránh xa thế sự để theo đuổi cuộc sống khổ hạnh. Những động lưc chính của đời sống sa mạc:
Họ được gọi là các đan tu. Nếp sống đan tu này bắt đầu từ Ai cập vào khoảng năm 347. Thánh Phaolô Tebe và Thánh Antôn(251-356) như là những nhân vật tiêu biểu cho nếp sống này. Họ sống cô tịch trên sa mạc theo từng nhóm, chăm lo đọc Sách thánh, cầu nguyện, thực hành các nhân đức, dưới sự hướng dẫn của một người dìu dắt. Họ cũng lao động để có của sinh sống. Ngày Chúa Nhật thì họ tìm đến một nhà thờ nào đó để tham dự Thánh lễ. Tuy nhiên, khi đã sống chung với nhau thì cần có những qui ước hay luật lệ cho đời sống cộng đoàn. Vì thế, luật lệ là cần thiết để duy trì đời sống và phát triển đời sống tu trì. Một bản luật thời đó được coi là cổ điển nhất của thánh Pacomio(288-346). Do nếp sống cộng đồng, lý tưởng tu trì dần dần được thay đổi. Trước đây sự từ bỏ tài sản nói lên ý muốn siêu thoát khỏi sự rằng buộc của vật chất, nhưng từ nay sự từ bỏ này hướng đến việc chia sẻ tất cả những gì mình có về tinh thần, vật chất với anh em. Tình bác ái huynh đệ cũng được đề cao với những đòi hỏi sự từ bỏ bản thân để phục vụ tha nhân. Từ Ai cập, nếp sống đan tu lan rộng sang cả Palestina, Syria, Tiểu Á. Tại đây chúng ta gặp thấy có thánh Basilio(+379). Nhờ những hành hương Thánh địa, cũng như những cuộc giao thương trong phạm vi của Đế quốc Rôma, nếp sống đan tu được mang tới cả Âu châu. Bên phương Tây, nếp sống ẩn tu không thịnh hành cho lắm, nhưng chỉ có hình thức cộng đồng xung quanh các vị Giám mục Eusebio ở Vercelli(+397). Ambrosio tại Milano(+397); Martino ở Tuors(+397) nước Pháp; Augustino ở Bắc phi(350-430). Các cộng đồng này không ở trong sa mạc, nhưng ở thành phố. Thành phần của họ có cả các giáo sĩ. Ngoài ra, còn có các trinh nữ dưới sự điều khiển của các Giám mục. Hình thức đan tu nổi tiếng hơn cả ở phương Tây thời đó là do thánh Benedicto Norcia lập ra khoảng 480-547 ở Subiaco và Monte Cassino bên Italia. Bản luật của thánh Benedicto là coi là tinh hoa của các bản luât trước của Pacomio, Basilio, Cassiano, Augustino. Đan việc được coi như trường học, nơi đây các đan sĩ được học hỏi đường lối theo chân Đức Kitô và phục vụ Thiên Chúa dưới sự hướng dẫn của Viện phụ. Benedicto đề cao việc ca ngợi Thiên Chúa qua phụng vụ và lao động. Cách thức đào tạo: Sau một thời gian thử luyện, các đan sĩ tuyên hứa vĩnh cư(stabilitas), cải hoán(conversatio morum) và vâng phục(obedientia). Vĩnh cư có nghĩa là sống suốt đời ở tu viện; hoán cải là chấp nhận kỷ luật của đời sống cộng đoàn; vâng lời viện phụ như là một nhà dìu dắt thiêng liêng, bắt chước Đức Kitô, vâng theo Thánh Ý Chúa Cha. III-Thời Trung Cổ Vào thời thế kỷ thứ 10, do sự cải tổ của Cluny,một số đan viện đã liên kết với nhau chung quanh một đan viện mẹ. Đây là bước đầu của hình thức trung ương tập quyền. Thêm nữa, do đặc ân của Đức Gioan XI(932), các đan sĩ của Cluny phục tùng Đức Thánh Cha, chứ không ở dưới quyền của các Giám mục địa phương nữa. Sự thống nhất này trong kế hoạch của Toà Thánh, muốn tách Giáo hội khỏi sự can thiệp của thế quyền. Do sự kiện này đã làm biến thái hình thức tu trì của những đan viện cổ truyền. Sang thế kỷ thứ 11, Xitô lại đi ngược lại chủ trương của Cluny, dành lại sự tự trị của mỗi đan viện. Theo cách này, mỗi đan viện liên kết với nhau qua”Hiến chương bái ái”(Charta caritatis,1119), biểu thị qua việc giữ luật chung, qua việc gặp gỡ các viện phụ hàng năm tại các tổng công hội(capitulum generale) để thảo luận những vấn đề chung, cũng như qua việc kinh lý của bốn viện phụ trưởng. Do nhu cầu của cộng đoàn, các đan sĩ được chịu chức linh mục để đảm đương các bí tích trong đan viện. Tiếp nữa, là để lo công tác mục vụ cho các tín hữu như xưng tội, xin lễ hay cầu nguyện. Sau cùng, do nhu cầu của Giáo hội, Đức Thánh Cha cần những thừa sai đi truyền giáo. Từ những nhu cầu này mà trong đan viện có hai hạng tu sĩ, một có chức thánh, chuyên lo việc phụng vụ và học hành, còn những người không có chức thánh lo việc chân tay. Hạng có chức thánh được gọi là monica, còn không có chức thánh gọi là conversi. Trong khi các đan sĩ trở thành giáo sĩ, thì ngược lại một số giáo sĩ lại muốn trở thành tu sĩ. Họ muốn sống theo nếp sống của đời sống tu trì theo một bản luật nào đó. Một số họp thành Dòng, có lời khấn. Điển hình như luật của thánh Augustino, Dòng Ptrémontré do Norberto thành lập. Những hình thức tu trì mới Đến thế kỷ 11 đến 12, do nhu cầu của thời đại phải có những dòng ra đời để đáp ứng những nhu cầu đó. Phải kể đến sự xuất hiện của ba Dòng chính: Những Dòng bác ái: Lo săn sóc những người di cư, bệnh tật và những người hành hương. Dòng chuộc kẻ làm tôi: Được lập nên để cứu những tín hữu bị bắt làm nô lệ. Dòng hiệp sĩ: Lo giải phóng và bảo vệ những nơi thánh ở Palestina. Phải kể đến các Dòng đó là: Dòng bệnh viện thánh Antôn(1095), Dòng bệnh viện Chúa Thánh Thần(1180), Dòng Chúa Ba Ngôi(1198), Dòng Đức Bà chuộc kẻ làm tôi(1192), Dòng Đền thờ(1118), Dòng Hiệp sĩ Malta(1099?). Sang thế kỷ 13, xuất hiện những dòng hành khất. Đây là một hình thức có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử của đời sống tu trì và đối với Giáo hội nữa. Cũng vào thế kỷ này, văn minh châu Âu bước sang một khúc quặt mới, từ chế độ phong kiến đến chế độ công xã, từ nền kinh tế nông nghiệp đồng quê sang nền kinh tế giao dịch ở thành thị. Các đại học ra đời, thương mại phát triển sang cả các lục địa khác. Do đó, các hình thức tu trì gắn liền văn minh nông nghiệp và phong kiến không đáp ứng với văn hoá thời đại nữa. Mặt khác đời sống tu trì cũng cần được cải tổ, nhờ đó, một số đan viện lớn cũng trở thành giàu mạnh, những viện phụ nắm giữ quyền hành không khác gì những lãnh chúa phong kiến. Từ thực tế này, nhiều phong trào cải cách nổi lên, đòi hỏi Giáo hội phải trở về với nếp sống giản dị của thời nguyên thủy. Thánh Đaminh Guzmano(1170-1226) và thánh Phanxicô Assisi(1181-1226) mở màn cho phong trào cải cách này bằng việc lập ra những dòng hành khất. Họ thực hành sự khó nghèo tập thể, sống nhờ việc xin ăn hàng ngày chứ không dựa trên tài sản. Họ rao giảng Tin Mừng cho những tầng lớp xã hội mới ra đời: trí thức, sinh viên và thương gia. Họ tuân giữ nhiệm nhặt các lời khấn, hãm mình đền tội cách khắc nghiệt và kinh nguyện, nhưng không tuân theo khuôn mẫu của gia đình như thánh Benedicto. Trái lại, họ coi nhau như anh em; bề trên do anh em bầu ra, và coi như người anh trưởng chứ không như người cha trong gia đình như trước nữa. Với sự xuất hiện của các dòng mới vào thời Trung Cổ, bộ mặt của đời sống tu trì đã biến đổi và mang những sắc thái khác nhau: Vì nhu cầu rao giảng và bí tích nên hầu hết các tu sĩ của các dòng vào thời này đều chịu chức linh mục. Các dòng này xây nhà tại các khu dân cư đông đúc, nhất là tại các thành thị. Các dòng mới có tính cách linh động khi họ có thể di chuyển khắp nơi trên thế giới. Ý nghĩa của sự tận hiến và các lời khấn cũng thay đổi. Họ coi sự trọn lành như là phương tiện để công tác tông đồ được hữu hiệu hơn; đời sống chung nhằm cổ võ sự hợp tác cho các hoạt động tông đồ; sự cầu nguyện và chiêm niệm hướng về sự thông truyền rao giảng; sự khó nghèo nhằm tạo ra tinh thần siêu thoát hơn; sự vâng lời nhằm chuẩn bị tâm hồn được sẵn sàng đi tới những nơi nào mà bề trên sai đi. Mối liên hệ với hàng Giáo phẩm cũng biến đổi. Sự mở rộng tầm hoạt động ra khắp nơi trên thế giới thì cần được bớt lệ thuộc khỏi hàng giáo quyền địa phương ngõ hầu có thể di chuyển dễ dàng. Hơn nữa, Toà Thánh cũng cần những lực lượng dưới sự chỉ huy trực tiếp của mình để có thể phục vụ Giáo hội hoàn vũ, nên không ngại đặt ra những dòng mới dưới sự bảo lãnh của mình. Đối với dòng nữ, thời kỳ này vẫn tiếp tục sống hình thức đan tu, lo việc cầu nguyện và hãm mình. IV-Thời cận đại Cùng với những hình thức tu trì cổ truyền, xuất hiện thêm những hình thức tu trì mới như:
1. Các giáo sĩ lề luật Ra đời vào đầu thế kỷ 16. Với những dòng như: Teatino(1524), dòng Barnabiti(1533), dòng Tên Chúa Giêsu(1540), dòng Somasca(1540), dòng Camiliano(1591). Họ là những giáo sĩ chuyên về công tác mục vụ của chức linh mục: giảng dạy, linh hướng, coi xứ. Họ giữ một lề luật, có lời khấn dòng, nhưng bỏ đi những tập tục của nếp sống đan tu, để dành nhiều thời gian hơn cho công tác mục vụ. Quyền hành được tập trung trong tay bề trên tổng quyền. Các chức vụ do trung ương chỉ định. 2. Các hội dòng chuyên biệt tông đồ Các hội dòng này theo đuổi một công tác tông đồ chuyên biệt. Như là: giáo dục, chăm sóc bệnh nhân. Các dòng nữ ra đời trong giai đoạn này nhằm đáp ứng một nhu cầu của xã hội hay Giáo hội địa phương. 3. Các tu đoàn sống chung không có lời khấn. Bộ GL hiện hành gọi nhóm này là:”Các tu đoàn tông đồ”. Họ là những giáo sĩ muốn sống chung với nhau để theo đuổi đường trọn lành, hay để thực hiện một công tác chung, nhưng họ không muốn bị ràng buộc bởi lời khấn dòng. Ở Việt nam với những dòng quen thuộc như: Lazarist(1625), các cha Xuân bích(1641), Hội Thừa sai Paris(1664), các Nữ tử bác ái do thánh Vinh-sơn sáng lập năm 1633. 4. Các tu hội đời Đây là một hình thức tu không công khai hay là chui theo hai nghĩa: Về mặt lịch sử pháp lý, thời đó hình thức này chưa được sự nhìn nhận của Giáo hội, nên các nhóm này phải sống lén lút mgoài vòng pháp luật. Mãi đến 11/2/1947 hình thức này mới được Giáo hội nhìn nhận qua Tông hiến”Provida Mater Ecclesia của đức Pio XII. Nhìn về thực trạng, họ duy trì một lối tu kín đáo, không có cộng đồng tu viện, không có cơ sở hoặc công tác mang danh chính thức của tu hội và không có tu phục nữa. Các tu hội đời bắt đầu manh nha từ thế kỷ 16, do thánh Angela Merici(+1540) lập một hội những thiếu nữ muốn tận hiến cho Chúa và săn sóc các trẻ em mồ côi. Tuy nhiên các thiếu nữ này vẫn sống ở gia đình, chứ không phải vào tu viện. Kết luận: Nhìn qua lịch sử sự phát triển của dòng tu cho ta sự đa dạng và phong phú của đời sống tu trì trong đời sống của Giáo Hội không những có nhiều mục tiêu khác nhau, mà còn có những hình thức tổ chức sinh hoạt khác nhau. Do đó, nhà lập pháp phải lưu ý đến tính cách đa dạng này để đặt ra những nguyên tắc hướng dẫn cho phù hợp. Điều này đã được đề cập tới khi duyệt lại giáo luật sau Công đồng. Công đồng đã đưa ra 4 nguyên tắc chỉ đạo như sau:
Bài 2 TÁC PHONG LỊCH SỰ
I. CỬ CHỈ VÀ ĐIỆU BỘ (dáng điệu) Nhìn cử chỉ điệu bộ một người, ta đoán được nền giáo dục, văn hóa người đó hấp thu, mức độ tự chủ và thái độ nội tâm họ đang có. Cử chỉ toàn thân nên tự nhiên, thẳng thắn, không buông thả, lệch lạc. 1) TƯ THẾ : Đi, Đứng, Ngồi
Rất quan trọng, vì nó biểu lộ tính tình và tâm trạng của ta. - Đi chậm, kéo lê dép: dấu hiệu của uể oải, lè phè, bệnh hoạn. - Đi hấp tấp, đi rón rén, đi đánh vung tay: dấu của nhẹ dạ, lóc chóc - Đi cứng nhắc, đi hai hàng, nghênh mặt : dấu của kiêu căng, tự phụ. - Đi nghiêm trang, bàn chân thẳng: dấu của trang nhã, đạo đức. - Đi ngang qua chỗ người đang đứng , cần cúi đầu hoặc xin phép.
Là tư thế không di chuyển, cần giữ toàn thân cho thẳng. - Đừng đứng một chân, dang rộng chân, tréo chân, đứng thọt tay vào túi… - Đừng dựa vào tường, cây cối. Đừng đứng án mặt người khác. - Dáng đứng đẹp, vững chắc là chắp tay phía trước, chân thẳng. - Nếu đứng lâu, có thể đặt chân này sau chân kia một chút để rồn lực vào chân sau, tựa tay nhẹ vào bàn, vịn lan can, xách tay.
- Khi ngồi nói chuyện: tư thế nên thoải mái, giữ đầu ngay thẳng, bàn tay để trên đầu gối hay mặt bàn, hai đầu gối không quá rộng. - Đừng đặt tay dưới gầm bàn hay kẹp giữa hai đầu gối hoặc chống chỏ. - Đừng ngồi vắt chân, ưỡn ngực, rung đùi hay gác chân lên bàn ghế. - Trước khi ngồi, phải xin phép, hoặc đợi chủ mời mới ngồi. - Nên đứng nên ngồi xuống nhẹ nhàng, tránh gây tiếng động. - Khi lên xe ôtô con, ta ngồi xuống trước, rồi xoay người, rút chân lên.
2. GƯƠNG MẶT. a. Nét mặt : “trông mặt mà bắt hình dong” - Đó là nơi dễ nhận thấy đạo đức, tình cảm và nội tâm của ta: cần tạo nét dễ nhìn, tự tin, duyên dáng, khiêm tốn trên nét mặt. - Cần làm chủ gương mặt, đừng bộc lộ quá vui, quá buồn, quá sợ. - Tập tỏ ra dễ thương, trang nhã sẽ gây thiện cảm, tin tưởng. - Tiếp xúc với người lớn: nét mặt thành kính, khiêm tốn; với người trang lứa: nét mặt hòa nhã, duyên dáng, lịch thiệp; với người nhỏ: nét mặt tình cảm, tận tình, độ lượng.
b. Ánh mắt: Được gọi là cửa sổ tâm hồn, cân ánh mắt nhẹ nhàng, thanh thản, cái nhìn chân thành, quan tâm. - Đừng liếc ngang liếc dọc, đá lông nheo : đa tình - Đừng nhìn chằm chặp: soi mói - Đừng đảo mắt lia lịa, chớp mắt: biểu lộ gian trá. - Đừng trợn mắt, nhướng mày: cau có - Đừng ngó bâng quơ, hờ hững: lãnh đạm Mắt nhìn lên: ngưỡng mộ, nhìn xuống: thương hại, coi thường. Mắt liếc nhìn trộm, bẽn lẽn: nhút nhát, quyến rũ
- Nên khép môi, tập thở bằng mũi, vì hơi thở có mùi.. - Tránh gây tiếng động khi hít, hỉ mũi, ợ chua, hắt – xì, huýt sáo… - Đừng ngoáy mũi, cạy răng, bứt râu…khi giao tiếp.
3. Giọng nói: - Lời nói luôn rõ ràng, minh bạch, vừa đủ nghe. - Đừng nói quá to hay lí nhí, ấm ớ. - Dùng từ: giản dị, dễ hiểu. Đừng tỏ học thức khi dùng từ ngoại quốc, triết lý…cho người bình dân. - Tránh dùng từ thô kệch, bất nhã, tiếng lóng…
II. VỀ TRANG PHỤC
- Dùng để che thân và góp phần tạo nên nhân cách, biểu lộ chức vị, nghề nghiệp của một người. - Nguyên tắc căn bản: sạch sẽ, gọn gàng, phù hợp chức nghiệp, hợp thời, hợp cảnh, hợp vóc dáng, màu da. - Đừng mặc đồ quá lòe loạt, hở hang, quá sang trọng. - Mặc y phục đúng nơi, đúng việc, cách kỹ lưỡng (cài nút, dây kéo…)
Vừa vặn, cần phân loại sử dụng cho từng dịp : lễ hội, thể thao, dạo chơi, phòng ngủ, trong nhà… Mang giầy dép cho phù hợp với y phục, hoàn cảnh.
Bài 3 LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP
I. GẶP GỠ, THĂM VIẾNG: 1. Chào hỏi: · Chào hỏi là biểu lộ sự kính trọng, lịch sự là phương tiện để gây thiện cảm. Lời chào hỏi nên kèm theo nụ cười niềm nở, thân thiện. · Người dưới không chào người trên là thiếu lễ độ, người trên không đáp lời chào bị tiếng là hách dịch, khinh người. · Cách chào thông thường (Việt Nam) là cúi đầu và nói: “Kính chào Đức Cha, chào ông, chào thầy…chào bác sĩ”, nếu đang đội nón, ngậm thuốc lá thì bỏ ra. · Việc bắt tay: Đợi người trên đưa ra trước, mới được bắt. Bắt tay với sự niềm nở, thân mật, đừng mềm nhũn cũng đừng xiết quá chặt, hoặc lúc lắc quá mức…khi mang bao tay hoặc dơ bẩn, thì xin lỗi. 2. Giới thiệu: · Mục đích giới thiệu là để quen biết nhau, biết rõ hơn. · Cách giới thiệu: Giới thiệu người nhỏ cho người lớn, người chức cao trước người chức nhỏ. Lời giới thiệu cần đầy đủ về tên, chức nghiệp (nơi ở và nơi làm…). Vd: Thưa Cha đây là anh X, chị Y bạn lớp của con. · Giới thiệu bất kỳ ở đâu, lúc nào, nếu thấy cần cho sự quen biết và làm việc. Chỉ nên nói cách ngắn gọn về điều ta biết thôi, đừng giới thiệu quá mức! 3. Thăm Viếng: · Khi nào? Khi vừa mới đến nơi, khi đổi nơi ta cần thăm viếng người chủ, người lớn nơi đó. Khi hay tin vui hay buồn, đau bệnh, dịp lễ bổn mạng, sinh nhật… · Cách thức thăm: gõ cửa (2 tiếng), hoặc bấm chuông chờ mời vào. · Khi vào nhà, vào phòng riêng, chào chủ nhà và các thành viên gia đình. Khi được mời ngồi, ta cám ơn rồi ngồi nơi được chỉ định. · Đừng kéo dài câu chuyện, tìm cách rút lui khi chủ còn luyến tiếc. Cuộc thăm viếng thông thường không quá 15 phút. Nên lưu ý xem thời giờ, công việc của chủ nhà để cáo lui sớm. Tiếp khách thăm: · Phải tỏ ra vui vẻ, hiếu khách, ra đón tiếp niềm nở, rộng rãi, nhất là đối với anh chị em tu sĩ.Nhẫn nhục nghe chuyện, đừng bộc lộ, nhăn nhó. · Đang tiếp chuyện, nếu có việc khẩn cấp, hoặc có khách vào, ta cảm phiền, xin vui lòng đợi chút…khi họ ra về, cần đưa tiễn với đôi lời mời, luyến tiếc… Với khách tạm trú: Tạo sự thoải mái “như nhà của họ”. Cần đón tiếp niềm nở, dọn phòng riêng, dụng cụ cho sạch sẽ, rồi tổ chức giải trí, cơm nước chu đáo. Nên giữ bầu khí vui vẻ, quan tâm đến nhu cầu của khách. Thời gian ở trọ: Châm ngôn người khách là: “nhập gia tùy tục”. Biết quý trọng những gì của chủ (đồ dùng, thú vật, điện nước…), biết khen tặng những cái hay đẹp, tài nấu nướng, cách trang trí, trả thù lao cho người làm công…đừng tò mò, lục đồ đạc, thư từ của chủ nhà, nên biên thư cám ơn, có thể gửi quà tặng.
II. NGHỆ THUẬT NÓI CHUYỆN
1. Đó là NGHỆ THUẬT “BIẾT NGHE”: · “Thiên Chúa ban cho ta có hai cái tai và một cái lưỡi, để đào luyện ta nên Nói ít mà lại Nghe nhiều”. · Có người thích nói, nói lung tung “nói dai như đỉa đói” đó là cách gây ác cảm thành công nhất ! Còn nghệ thuật Nói, chính là Biết Nghe, nghe không chỉ bằng đôi tai, mà còn gnhe bằng mắt, bằng miệng, bằng nét mặt và toàn thân nữa. Đó chính là bí quyết “gây thiện cảm”. Nghe bằng đôi tai: Dĩ nhiên, lời nói đuơc nhận biết qua đôi tai. Nghe bằng tai những thông tin, đôi khi có những lời chỉ trích, nói xấu, phán đoán bừa bãi, tục tĩu…Hãy cười cười, rồi bỏ qua, xem như “nước đỗ đầu vịt” và gợi ý sang chuyện khác bổ ích hơn. Nghe bằng mắt: Khi tiếp chuyện với ai, hãy nhìn vào mắt họ, như muốn thu hút hết điều họ nói, cả những điều mà họ diễn tả chưa đủ bằng lời. Họ muốn thế, họ muốn bạn biết hết ý họ, nên bạn hãy dồn nhãn lực vào họ là cách nghe bằng mắt. Nghe bằng nét mặt: Đừng để “mặt chai như đá” nhưng nên thay đổi nét mặt theo tình tiết câu chuyện, để tỏ ra thông cảm với họ. Nghe bằng điệu bộ: qua việc gật đầu đồng ý; chống tay; nhăn chán; để tỏ vẻ suy tư; hoặc tươi nở nụ cười với niềm vui mà họ kể. Nghe bằng miệng khi lên tiếng nói: “vâng, dạ, phải đó, thật à!...” tùy theo ý nghĩa câu chuyện. Nghe với tinh thần học hỏi: Khi tiếp chuyện với ai, ta nên rút ra bài học “hay-dở”. Trên đời ai lại không có hay-dở. Hãy loại bỏ điều tiêu cực để thu nhận điều tích cực và tích lũy thành kinh nghiệm sống. BIẾT NÓI. Thận trọng: Nếu họ muốn chia sẻ góp ý, ta hãy thận trọng suy nghĩ và nhận định, trước tiên về mặt tích cực điều họ đã nói và cần dè dặt mặt tiêu cực. Hãy thận trọng góp ý bằng cách nói khiêm tốn và nghiêm túc, nhất là bày tỏ sự cảm thông chân thành đối với họ. Nghiêm túc và khiêm tốn: Đừng nói những lời, những chuyện thiếu thanh nhã, lời hai ý, nhất là vấn đề phái tính. Lời nói bộc lộ nội tâm của bạn, vì “lòng đầy miệng mới nói ra”. Nói khiêm tốn là không nên nói về mình nhiều quá, lúc nào cũng phô trương “cái tôi” thế này, thế nọ, nhưng nên nhìn nhận “tôi con thiếu xót”. Bác ái: Nói để xây dựng tình đoàn kết, yêu thương và giúp nhau thăng tiến hơn. Tránh những lời chua cay, châm biếm, mỉa mai…nói hành, nói xấu. Nên nhớ “ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình”. Khi nói xấu ai về một vấn đề gì, đó là dấu ta đã có khuynh hướng xấu đó rồi! Còn nói tốt về một người, đó là cách giúp ta muốn sống tốt, muốn khích lệ người đó tốt hơn, mà cũng là cách để người khác đánh giá tốt về mặt đó.
III. LỊCH SỰ TRONG BỮA ĂN Bàn ăn là nơi thể hiện nhân cách và giáo dục nhiều nhất, tục ngữ có câu: “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”, nhằm lưu ý ta việc học cách ăn uống và tiếp đãi khách. 1. Cách ăn uống: · Khi đến giờ, chủ nhà mời ăn, chỉ chỗ và mời ngồi, ta hãy ngồi cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Kế tiếp (kinh nguyện), cách cầm đũa, chén hoặc muỗng, nỉa, dao, khăn ăn. · Ăn uống, cách nhẹ nhàng, từ tốn, lấy thức ăn do chủ trao hoặc chọn món ăn gần nhất. Đứng sóc lên, lựa chọn miếng ăn…lưu ý sử dụng các muỗng cho từng món ăn. · Khi uống nước nóng, không nên thổi:tay mặt cầm tách, tay trái cầm dĩa lót hứng nước nhiễu. Uống nhẹ nhàng từng ngụm. · Khi chủ rót rượu, trà, nên lưu ý xin vừa đủ và cám ơn. · Không nói chuyện khi thức ăn còn trong miệng. · Học cách ăn dĩa và cách cầm muỗng, nỉa, dao. 2. Cách đãi tiệc. Nguyên tắc chung: mời và đến đúng giờ, để khai mạc bữa tiệc. a.Cách đặt bàn, xếp ghế: · Tùy loại bàn tròn hay chữ nhật, kiểu Việt Nam hay Âu Mỹ mà ta có cách đặt bàn khác nhau. · Nguyên tắc chung: trải khăn sạch, ghế ngồi cách nhau chừng 50 phân, xếp sẵn chén, dĩa, ly, muỗng, nỉa dao hay đũa, khăn ăn…cho từng người. Đừng quên ống tăm sạch sẽ, có thể đặt sẵn thực đơn (menu) · Xếp chỗ ngồi: Nếu khách không lớn hơn chủ nhà, chỉ chủ nhà ngồi ghế số 1, kế đến là ghế đối diện, hoặc bên tả hữu của người quan trọng. Người thân trong nhà phải nhường chỗ ngồi cho khách. · Cách sắp xếp bàn ghế (loại vuông, tròn) và vị trí quan trọng trong bữa tiệc. b. Cách tiếp bàn: · Nguyên tắc chung: nhạy bén, gọn sạch, khi rót rượu nước, khi đem vào hoặc lấy thức ăn ra tùy theo nhu cầu bàn ăn. · Đừng tự động chia thức ăn, uống, cần thêm, phải xin phép người dùng. · Học cách rót rượu, trà, cách chia thức ăn, xúp… sử dụng bếp ga. · Ăn xong, mời dùng món tráng miệng, dùng rượu thơm hoặc cà phê, trà.
|
||||||||||